Cấu trúc và khả năng sinh lý của bộ phận sinh dục gà mái

Bài viết Cấu trúc và khả năng sinh lý của bộ phận sinh dục gà mái thuộc chủ đề về đang được rất nhiều bạn lưu tâm đúng không nào !! Hôm nay, Hãy cùng Camnangnuoitrong.com tìm hiểu Cấu trúc và khả năng sinh lý của bộ phận sinh dục gà mái trong bài viết hôm nay nha !
Các bạn đang xem bài viết : “Cấu trúc và khả năng sinh lý của bộ phận sinh dục gà mái”

thống kê quy trình tiến hoá của động vật nhận thấy, gia cầm có đặc điểm giống loài bò sát từ điểm xuất phát tiến hoá. vì thế, gia cầm có thụ tinh trong và sinh sản bằng cách đẻ trứng. Con trống có đôi tinh hoàn nằm trong cơ thể, cơ quan giao cấu ngoài (gai giao cấu) nằm trong lỗ huyệt. Con cái thoái hoá buồng trứng bên phải của hệ sinh dục, chỉ còn lại buồng trứng và ống dẫn trứng bên trái tồn tại và phát triển. Âm hộ gắn liền với tử cung và cũng nằm trong lỗ huyệt, vì thế lỗ huyệt đảm nhiệm 3 chức năng: chứa phân, chứa nước tiểu và bộ phận sinh dục gà mái (âm hộ).

Khi giao phối, gai giao cấu của con đục áp sát vào lỗ huyệt của con cái và phóng tinh vào âm hộ.

Buồng trứng

Buồng trứng nằm bên trái xoang bụng, được giữ bằng màng bụng. Kích thước và hình dạng buồng trứng phụ thuộc vào tuổi và loại gia cầm.

 

Cấu tạo đường sinh dục của con mái

Cấu tạo đường sinh dục của con mái A. Sự hình thành trứng; B. Phễu và ống dẫn trứng; c. Mặt cắt ngang của tử cung 1. Buồng trứng; 2. Phễu; 3. Cổ phễu; 4. Phần tạo lòng trắng;  5. Các tuyến của phần tạo lòng trắng; 6. Vùng không có tuyến; .7. Eo; 8. Tuyến eo; 9. Các tuyến phần đầu tử cung; 10. Tử cung; 11. Các tuyến tử cung; 12. Âm đạo; 13. Lỗ huyệt

Ở gà 1 ngày tuổi có kích thước 1 – 2mm, khối lượng 0,03 g. Gà thời kỳ đẻ, buồng trứng hình chùm nho, chứa nhiều tế bào trứng, có khối lượng 45 – 55 g, khi gà đẻ thay lông và gà dò có khối lượng buồng trứng 5 g. Sự hình thành buồng trứng, kể cả các tuyến sinh dục (bộ sinh dục) xảy ra vào thòi kỳ đầu của sự phát triển phôi: phôi gà vào ngày thứ 3, vịt, ngỗng vào ngày thứ 4 và 5. Trong buồng trứng có chất vỏ và chất tuỷ. Bề mặt vỏ được phủ bằng một lớp biểu mô gồm các tế bào hình trụ. Dưới chúng có màng cứng kết nối mỏng, sau nó có hai lớp nang vói các tế bào trứng.

Chất tuỷ nằm ở góc buồng trứng và được cấu tạo từ mô kết nối với một lượng mạch máu và dây thần kinh lớn. Trong chất tuỷ có những khoang (lỗ hổng) được phủ bằng lớp biểu mô dẹt và tế bào kẽ. Gà có 4 – 5 giai đoạn tuổi: 0 – 6 (9); 7 (10); 19 (20); 21 – 25 và 26 – 66 (72) tuần tuổi. Mỗi lứa tuổi xảy ra những thay đoi về cấu trúc và chức năng của buồng trứng.

Chức năng buồng trứng

Chức năng của buồng trứng là tạo trứng. quy trình phát triển của tế bào trứng có 3 thời kỳ: tăng sinh, sinh trưởng và chín.

Thời kỳ tăng sinh

Trước khi bắt đầu đẻ trứng, trong buồng trứng gà mái đếm được 3500 – 4000 tế bào trứng (mỗi tế bào trứng có 1 noãn hoàng) nhìn thấy được qua soi kính lúp. Trên gà Leghom – 3800; gà Rốt – 3200; gà lai R X L – 3350 (Theo thống kê của Trung tâm NCGC Vạn Phúc 1986). Ở Vịt thì ít hơn 1250 – 1500. Trong tế bào trứng (phần noãn hoàng) có nhân to với những hạt nhỏ và thể nhiễm sắc. Trong noãn hoàng có chứa nhân tế bào.

Thời kỳ sinh trưởng

Tế bào trứng tăng trưởng nhanh, đặc biệt là lòng đỏ. Trong khoảng thời gian 3 – 14 ngày, lòng đỏ chiếm 90 – 95% khối lượng của tế bào trứng, thành phần gồm protit, photpholipit, mỡ trung hoà, các chất khoáng và vitamin. Đặc biệt lòng đỏ được tích luỹ mạnh vào ngày thứ 9 và 4 ngày trước khi trứng rụng. Lòng đỏ được bao bởi lớp màng (vỏ lòng đỏ) đàn hồi. Lòng đỏ sẫm được tích luỹ ban ngày đến nửa đêm; còn lòng đỏ sáng được tạo vào phần còn lại của ban đêm. Việc tăng quy trình sinh trưởng của tế bào trứng do tác động của foliculin được chế tiết ở buồng trứng khi thành thục sinh dục. Vào cuối thời kỳ phát triển của tế bào trứng, giữa lòng đỏ chứa đầy limpho. Trong đó noãn hoàng bơi tự do và các cực của nó nằm thèo lực hướng tâm – cực anivan (cùng đĩa phôi) hướng lên trên, còn cục thực vật hướng xuống dưới. Đường kính lòng đỏ khoảng 35 – 40 mm.

Màu của lòng đỏ phụ thuộc vào sắc tố trong máu, vào thức ăn: carotenoit, caroten, xantofil. Khi gà ăn thức ăn chứa nhiều caretenoit thì lòng đỏ màu đậm.

Như vậy, tuỳ theo màu của lòng đỏ khả năng xác định hàm lượng vitamin A của trứng được dùng để ấp, cũng chất lượng trứng ăn.

Thời kỳ chín của noãn hoàng (thời kỳ cuối hình thành trứng)

Thời kỳ này có sự phân bào giảm nhiễm, số nhiễm sắc thể của tế bào trứng từ 2n giảm còn n (giảm một nửa). Trong quy trình phân chia giảm nhiễm xảy ra sự trao đổi các thành phần di truyền (gen) giữa các dị nhiễm sắc thể. Nhiễm sắc thể đực và cái kéo lại gần nhau và tạo thành đôi ( X và Y —> XY). Vào thời kỳ gần nhau (tiếp hợp), nhiễm sắc thể trao đổi những phần của mình. quy trình này có ý nghĩa quan ưọng trong việc truyền cấc tính trạng di truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Sự rụng trứng

Tế bào trứng rời khỏi buồng trứng gọi là sự rụng trứng. Nang trứng chín do áp suất dịch nang tăng lên, dẫn tới phá vỡ vách nang tại vùng lỗ hở. Tế bào trứng cùng lúc đó roi vào túi lòng đỏ (chất nuôi dưỡng phôi thai sau này). Lúc lòng đỏ (chứa tế bào trứng) rơi vào xoang bụng, ngay lập tức được phễu của ống dẫn trứng hứng lấy và hút vào cuống phễu (phần tiếp với ống dẫn). Tinh trùng gặp tế bào trứng và thụ tinh tại đó.

Sự rụng trứng của gà chỉ xảy ra một lần trong ngày thường 30 giây sau khi đẻ trứng. Nếu gà đẻ trứng vào gần cuối buổi chiều (16 giờ) thì sự rụng trứng thực hiện vào sáng hôm sau. Trứng được giữ lại trong ống dẫn trứng làm đình trệ sự rụng trứng tiếp theo. Sự rụng trứng của gà thường xảy ra từ 2 giờ – 14 giờ, còn ở vịt ngược lại từ 16 giờ – 2 giờ sáng (rụng và đẻ trứng vào ban đêm).

Chu kỳ rụng trứng phụ thuộc vào các yếu tố: Điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, lứa tuổi và trạng thái sinh lý của gia cầm, v.v… Nếu thức ăn kém chất lượng, nhiệt độ không khí cao làm sụt giảm sự rụng trứng và đẻ trứng. Ở các xí nghiệp chăn nuôi gà Lương Mỹ, Tam Dương vào mùa nóng (tháng 5 – 7) với nhiệt độ ngoài trời 35 – 40°c, sức đẻ trứng của gà sinh sản ISA đã giảm từ 15 – 20%. Thức ăn bị nhiễm nấm độc không những làm sụt giảm sự rụng trứng mà còn giảm cả sự thụ tinh. Gà nhiễm bệnh virut hoặc vi trùng đường ruột cũng hạ thấp khả năng rụng trứng. Đàn gà của Xí nghiệp gà Tam Dương khi nhiễm bệnh CDR, tỷ lệ đẻ giảm từ 75% xuống còn 50 – 55%, thậm chí 30%…

Cấu tạo một quả trứng

Cấu tạo một quả trứng 1. vỏ trứng; 2. Màng vỏ ngoài; 3. Màng vỏ trong; 4. Buồng khí; 5. Lòng trắng; 6. Lòng đỏ; 7. Màng lòng đỏ; 8. Đĩa phôi và phôi (còn gọi là bì phôi).

Cơ chế điều hoà quy trình phát triển và rụng trứng

Các hormon hướng sinh dục của tuyến yên – FSH và LH kích thích sự sinh trưởng và chín của trứng. Còn nang trứng tiết ra Oestrogen trước khi rụng, kích thích vận hành của ống dẫn trứng. Oestrogen tác động lên tuyến yên ức chế tiết FSH, (Foliculo Stimulin Hormon) và LH (Luteino Stimulin Hormon). Như vậy tế bào trứng phát triển và chín chậm lại, làm ngưng rụng trứng khi trứng còn trong ống dẫn trứng hoặc tử cung (chưa đẻ).

Sơ đồ điều hòa quá trình rụng trứng

Sơ đồ điều hòa quy trình rụng trứng

Ở gà mái vào 2 tuần đầu của giai đoạn đẻ trứng thứ nhất (pha I: 25 – 45 tuần tuổi) thường mỗi cá thể gặp 2 – 3 lần đẻ trứng 2 lòng. Đó là do khi gà mái bắt đầu vào đẻ, vận hành của FSH, LH mạnh, kích thích một lúc 2 tế bào trứng phát triển, chín và rụng. mặt khác LH chỉ tiết vào buổi tối, từ lúc bắt đầu tiết đến lúc rụng trứng 6 – 8 giờ. vì thế việc chiếu sáng bổ sung vào buổi tối làm chậm tiết LH kéo theo giảm đi sự rụng trứng 3 – 4 giờ. Việc chiếu sáng bổ sung 3 – 4 giờ buổi tối thực chất để gà đẻ ổn định và tập trung vào khoảng 8 – 11 giờ. Nếu không bảo đảm đủ thời gian chiếu sáng 15 – 18 giờ/ngày, không những làm gà đẻ rải rác mà còn giảm năng suất trứng.

Như vậy điều hoà sự rụng trứng là do yếu tố thần kinh thể dịch ở tuyến yên và buồng trứng phụ trách. mặt khác còn có cả thần kinh cấp cao và vỏ bán cầu đại não tham gia vào quy trình này.

Ống dẫn trứng

Cấu tạo

Ống dẫn trứng là một phần hình ống, ở đó xảy ra việc thụ tinh tế bào trứng và kết thúc ở lỗ huyệt. Kích thước của ống dẫn trứng thay đổi ngay theo tuổi và hoạt hoá chức năng hệ sinh dục. Khi thành thục sinh dục, ống dẫn trứng trơn, thẳng, có đường kính đồng nhất trên chiều dài ống dẫn. Sau khi đẻ quả trứng đầu tiên ống dẫn trứng của gà có chiều dài 68cm, khối lượng 77g. Khi chật đẻ, chiều dài tăng tới 86 – 90cm, đường kính tới 10cm. Ở gà không đẻ, ống dẫn trứng có kích thước tương ứng là 11 – 18 cm và 0,4 – 0,7cm.

Khi gia cầm thành thục sinh dục, ống dẫn trứng gồm các phần sau: phễu (hình loa kèn), đoạn tạo lòng trắng, cổ tử cung, tử cung và âm đạo.

Phễu

Phần mở rộng của phía đầu ống dẫn trứng dài 4 – 7cm, đuờng kính 8 – 9cm. Nó nằm dưới buồng trứng. Phễu có thân phễu (loa kèn) và cổ phễu. Bề mặt niêm mạc phễu gấp nếp, không có tuyến. Lớp niêm mạc cổ phễu có tuyến hình ống, chất tiết của nó tham gia vào tạo trứng. Thành phễu nhu động theo một chiều nhờ lớp dây co từ mép phễu đến cuống phễu. Nhờ kiểu nhu động sóng một chiều nên khả năng hút được tế bào trứng rụng về mình và không thể rơi vào xoang bụng. Tế bào trứng nằm ở phễu không quá 20 – 30 phút.

Phần tạo lòng trắng

Là phần dài nhất của ống dẫn trứng. Ở thời kỳ gà mái đẻ rộ phần tạo lòng trắng dài 30 – 50cm. Niêm mạc có gấp nếp dọc, trong đó có tuyến hình ống giống cổ phễu tiết ra chất lòng trắng đặc và lòng trắng loãng. Trứng lưu lại đoạn này không quá 3 giờ.

Cố ống dẫn trứng (eo)

Phần hẹp của ống dẫn trứng dài 8cm. Niêm mạc nếp gấp sít. Các tuyến ở eo tiết ra chất hạt giống như keratin tạo nên lớp sợi chắc quấn lấy nhau để hình thành màng chắc.

Tử cung (dạ con)

Đoạn tiếp của đoạn eo dài 10 – 12cm, hình túi dày. Niêm mạc phát triển nhiều nếp nhăn xếp theo hướng ngang và xiên. Tuyến của vách tử cung tiết ra chất dịch lỏng, chất dịch này thấm qua các màng dưới vỏ trứng vào màng trắng.

Âm đạo

Là đoạn cuối cùng của ống dẫn trứng, sau khi hình thành thì trứng rơi vào đó. Giữa tử cung và âm đạo có phần thu hẹp, ở đó có van cơ. Âm đạo dài 7 – 12cm, niêm mạc nhẵn, không có tuyến.

Chức năng

Chức năng của ống dẫn trứng chủ yếu là nhận tế bào trứng rụng, hình thành nên các bộ phận và thành phần khác (lòng trắng bao quanh lòng đỏ, màng vỏ cứng của trứng..:) và di chuyển trứng từ phễu đến âm đạo. Chức năng chi tiết từng bộ phận như sau:

Phễu có nhiệm vụ hứng tế bào trứng rụng, nhu động tạo ra lực đẩy tế bào trứng xuống phần ống dẫn.

Lớp lòng trắng đầu tiên được hình thành ở cổ phễu. Lòng trắng nhày bao quanh lòng đỏ. Đi qua phần đầu của ống dẫn, lòng đỏ quay chậm, dịch nhày bao quanh tạo dây chằng, giữ lòng đỏ ở tâm trứng. Sát với lòng đỏ có lớp lòng trắng bao quanh.

Đoạn tạo lòng trắng: Ở đây tiết ra chất lòng trắng đặc và loãng bổ sung vào lòng trắng đặc ở trong, còn lòng trắng loãng ở ngoài.

Cổ ống dẫn trứng tạo ra dung dịch muối đi vào lòng trắng. Trứng nằm ở đoạn này gần 1 giờ.

Ở đây lớp lòng trắng loãng được bổ sung và tạo màng vỏ trứng.

– Tử cung: Ở đây trứng được hình thành hoàn toàn. Khối lượng trứng tăng gấp đôi (đạt cao nhất). Lớp vỏ cứng được tạo thành bao quanh lòng trắng. Nó cấu tạo bởi các sợi colagen nhỏ đan chéo dày lên nhau như “cốt sắt, tấm bê tông”. Còn chất vô cơ – muối canxi – cacbonat canxi chiếm 99% và canxi photphat -1% được tổng hợp trong suốt thòi gian trứng hình thành ở tử cung khoảng 18 – 20 giờ.

Bên ngoài vỏ cứng phủ một lớp màng mỏng (gọi là men trắng ngoài vỏ), chất màng nhày này tiết ra từ tế bào biểu mô dạ con (tử cung).

Men cacbonhydraza và photphataza kiềm tham gia tích cực vào quy trình hình thành vỏ trứng. Khi gà đẻ lượng cacbonhydraza nhiều hon hẳn so với khi gà không đẻ. Người ta cho rằng trứng vỏ mềm hoặc thiếu vỏ cứng là do chất sulfanilamit ức chế men cacbonhydraza.

Các câu hỏi về Cấu trúc và khả năng sinh lý của bộ phận sinh dục gà mái


Nếu có bắt kỳ câu hỏi thắc mắt nào vê Cấu trúc và khả năng sinh lý của bộ phận sinh dục gà mái hãy cho chúng mình biết nha, mõi thắt mắt hay góp ý của các bạn sẽ giúp mình nâng cao hơn hơn trong các bài sau nha <3 Bài viết Cấu trúc và khả năng sinh lý của bộ phận sinh dục gà mái ! được mình và team xem xét cũng như tổng hợp từ nhiều nguồn. Nếu thấy bài viết Cấu trúc và khả năng sinh lý của bộ phận sinh dục gà mái Cực hay ! Hay thì hãy ủng hộ team Like hoặc share. Nếu thấy bài viết Cấu trúc và khả năng sinh lý của bộ phận sinh dục gà mái rât hay ! chưa hay, hoặc cần bổ sung. Bạn góp ý giúp mình nha!! Các từ khóa tìm kiếm cho bài viết #Cấu #trúc #và #chức #năng #sinh #lý #của #cơ #quan #sinh #dục #gà #mái

Tham khảo báo cáo về Cấu trúc và khả năng sinh lý của bộ phận sinh dục gà mái tại WikiPedia

Bạn nên tìm thêm nội dung chi tiết về Cấu trúc và khả năng sinh lý của bộ phận sinh dục gà mái từ trang Wikipedia tiếng Việt.◄
Các từ khóa tìm kiếm cho bài viết #Cấu #trúc #và #chức #năng #sinh #lý #của #cơ #quan #sinh #dục #gà #mái

source: https://camnangnuoitrong.com/

Xem thêm các bài viết về Gà Cảnh hay tại : https://camnangnuoitrong.com/ga/

Danh mục:
0 0 votes
Article Rating
Subscribe
Notify of
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments
0
Would love your thoughts, please comment.x
()
x